Ads 468x60px

Sunday, 13 April 2014

Dinh dưỡng cho người bệnh Gan

·         Dinh dưỡng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo trì sức khỏe của chúng ta.
·         Người bị bệnh viêm gan cần một dinh dưỡng đặc biệt tùy theo bệnh trạng của mỗi cá nhân.
·         Nhiều loại thuốc có thể hại đến tế bào gan, nên người bị viêm gan cần tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình của mình trước khi dùng bất cứ một loại thuốc nào.
·         Dược thảo tuy an toàn, nhưng trong một số trường hợp, thuốc có thể gây ra những điều kiện bất lợi và nguy hại cho người dùng.
·         Khi gan bắt đầu bị chai, một số thức ăn nước uống thông dụng hàng ngày có thể trở thành những độc tố tác hại trực tiếp đến lá gan.
Trong những năm gần đây, người ta ý thức hơn về vấn đề dinh dưỡng trong việc bảo trì sức khỏe cũng như chữa trị bệnh tật. Tuy "Ăn để sống, chứ không phải sống để ăn", chúng ta không nên chỉ ăn để sống "qua ngày". Ăn đúng cách có thểả giúp phòng ngừa bệnh tật, hoặc thuyên giảm nhiều triệu chứng khác nhau.

Tuy nhiên nói thì dễ, làm thì khó. Ngoài sự hiểu biết sâu xa về các loại dinh dưỡng, người muốn ăn đúng cách cần một ý chí cương quyết và bền bỉ. Ăn đúng "kiểu", chưa chắc đã ăn đúng cách. Ăn uống kiêng khem "cực khổ", chưa chắc sẽ tạo cho cơ thể chúng ta một môi trường thuận lợi. Nếu chúng ta ăn gạo lức muối mè ngày này qua tháng nọ, chẳng hạn; hoặc ăn trường chay một cách tuyệt đối mà không để ý đến các chất đạm hoặc chất bổ khác nhau, cơ thể chúng ta sẽ thiếu dần nhiều chất dinh dưỡng một cách kinh niên, và từ đó đưa đến nhiều bệnh tật. 

Thông thường, khi cơ thể chúng ta còn khỏe mạnh, chưa bệnh tật, ăn uống một cách "bừa bãi", "cẩu thả" cũng chỉ gây ra một số hậu quả không tốt nếu chúng ta tiếp tục "vung vít" "phá giới" từ ngày này qua tháng nọ. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng trở nên vô cùng quan trọng khi gan của chúng ta bị viêm, không còn tốt như xưa. 

Dinh dưỡng cho người bệnh viêm gan được phân biệt tùy theo bệnh trạng của mỗi cá nhân:


1) Người bị viêm gan cấp tính (acute hepatitis)
2) Người bị viêm gan kinh niên (chronic hepatitis) và 
3) Người bị chai gan (liver cirrhosis) hoặc ung thư gan (liver cancer).

Nói đến dinh dưỡng chúng ta thường gặp nhiều lời khuyên khác nhau, truyền tụng từ người này qua người nọ, từ đời này qua đời kia. Một số lời khuyên rất đúng và rất nên được ứng dụng vào đời sống hàng ngày. Ngược lại, nhiều lời khuyên hoàn toàn sai lầm và không dựa vào bất cứ một nghiên cứu khoa học nào cả. Những lời khuyên truyền khẩu này nhiều khi đã được phổ biến từ nhiều thế hệ khác nhau, nên được in sâu vào ký ức của đại chúng.
Thậm chí nhiều lời khuyên rất phản khoa học đã và đang được xem như một trong những món quà tinh thần cao quý, trao đổi cho nhau, từ người này sang người khác, và như thế cứ tiếp tục được duy trì và ứng dụng một cách rất phổ thông. Áp dụng những lời khuyên vô lý này vào cách thức ăn uống không những không mang lại một lợi ích nào mà còn có thể làm cho cơ thể của chúng ta mỗi ngày một yếu đi, một nhiều bệnh tật hơn.

Hơn nữa, không phải bệnh nào cũng có thể chữa được bằng thức ăn. Và không phải thức ăn nào cũng được xem như thuốc chữa bệnh. Theo định nghĩa, "thuốc" là một chất hóa học có thể ứng dụng để trị bệnh hoặc chữa lành thương tích. Nếu thực phẩm được dùng như thuốc trị bệnh, chúng sẽ có tất cả các phản ứng phụ nếu "dùng" không đúng cách hoặc quá "dose".
http://www.mediafire.com/view/rdzde2bcj5rdfg9/TL.FREE.00003.doc

Saturday, 5 April 2014

Quy hoạch đơn hình nghiên cứu lên men sinh tổng hợp kháng sinh

Phát triển công nghệ lên men tổng hợp kháng sinh là công việc nghiên cứu có ỷ nghĩa quán trọng ứng dụng công nghệ sinh học trong ngành dược. Công nghẹ lên men nếu được phát triển trong nước cũnặ phải hội tụ đủ các điểu kiện, đó là: Tính hiệu qua quá trinh, tính kinh tế toàn cục trên cơ sở tối ưu cong nghệ. Công việc nghiên cứu và tìm kiếm các phương pháp tối ưu hoậ để phát triển công nghệ len men phù hợp với điều kiện nước ta là một quá trình đòi hỏi nhiều công^ức. Trong bài viết này xin giới thiệu một số kết quả đạt được theo phương pháp quy hoạch đơn hình nghiên cứu tối ưu hoá qua trình len men sinh tổng hợp kháng sinh nhờ chủng Micromonospora được phân lập từ cơ chất Việt Nam vả đã qua đột  biến cải lạo giống
1. Vi sinh vật:
Chủng vi sinh vật sinh tổng hợp kháng sinh là chủng Micromonospora M108 do Bộ môn Vi nấm - kháng sinh Trường đại hoc Dược cấp trong khuôn khổ đe tài nghiên cứu phôi hợp giữa Bộ mon Công nghiệp Dược vá Tổ mon vi nam kháng sinh. Đây là chủng cho kháng sinh hoạt phổ rộng đang được chúng tỏi quan tâm nghiên cừu nhiều mặt.
Vi khuẩn kiểm định là Bacilluspumillus ATCC 10241 (Bp).

BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI TÀI LIỆU

Nghiên cứu công nghệ sản xuất và đánh giá hiệu quả của sản phẩm giàu lyzin và vi chất dinh dưỡng đến tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật của trẻ 6-12 tháng tuổi

Suy dinh dưỡng trẻ em vẫn là tình trạng pho biến ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Suy dinh dưỡng gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế, làm chậm phát triển kinh tế bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới giống nòi. Suy dinh dưỡng thường đi đôi với nghèo đói.
Theo Tổ chức y tế thế giới năm 2010, gần 13 triệu trẻ sơ sinh hàng năm bị suy dinh dưỡng bào thai hay có cân nặng sơ sinh thấp dưới 2500g. Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở các nước đang phát triển giảm từ 31% năm 1990 xuống còn 26% năm 2008 trên phạm vi toàn thế giới, theo từng khu vực, mức giảm có nhiều khác biệt: giảm từ 54% xuống còn 48% ở vùng Nam Á, giảm từ 31% xuống còn 27% ở vùng Cận Sahara, giảm từ 23% xuống còn 14% ở các nước Đông Á và Thái Bình Dương. Qua theo dõi nhiều năm, mặc dù các số liệu đã chỉ ra những tiến bộ trong giảm tình trạng suy dinh dưỡng, nhưng ở hầu hết các nước đang phát triển suy dinh dưỡng vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Theo báo cáo của tổ chức Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) năm 2010 vẫn còn khoảng 171 triệu trẻ bị SDD thấp còi, khoảng 115 triệu trẻ bị SDD gầy còm và khoảng 20 triệu trường hợp tử vong trẻ em liên quan tới suy dinh dưỡng nặng [138].
Tại Việt Nam, suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Năm 2010, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của toàn quốc là 17,5%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi chung toàn quốc là 29,3%. Ước tính đến năm 2010, nước ta có gần 1,3 triệu trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ suy dinh dưỡng thấp còi và khoảng 520.000 trẻ em suy dinh dưỡng gầy còm. Phân bố suy dinh dưỡng không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau, tỷ lệ thấp còi ở vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc miền Trung và Tây Nguyên còn cao, dao động từ 35% -40% [57].
Các nguyên nhân trực tiếp của suy dinh dưỡng trẻ em là suy dinh dưỡng bào thai, khẩu phần ăn của trẻ bị thiếu về số lượng và chất lượng, tình trạng nhiễm khuẩn. Nguyên nhân sâu xa của suy dinh dưỡng trẻ em bao gồm những bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn đề về nước sạch, vệ sinh môi trường, nhà ở. Một nguyên nhân gốc rễ không thể không nhắc đến, đó là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về phát triển nói chung, bao gồm cả sự mất bình đẳng về kinh tế [6], [7], [18], [142],[146].
Ớ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khẩu phần ăn chủ yếu dựa vào các thực phẩm có nguồn gốc từ ngũ cốc, trong đó gạo cung cấp trên 70% năng lượng khẩu phần. Những khẩu phần này thường bị thiếu hụt lyzin, một trong số các axit amin cần thiết mà cơ thể không thể tự tong hợp được. Khi thiếu axit amin này làm cho quá trình tổng hợp protein kém hiệu quả, giảm giá trị dinh dưỡng của bữa ăn. Tại các vùng nông thôn Việt Nam, gạo vẫn là thực phẩm cơ bản cho chế biến các bữa ăn bổ sung của trẻ nhỏ, cộng với nước mắm, mỡ, mì chính, hoặc đường kính. Với chế độ ăn nghèo dinh dưỡng như vậy, bữa ăn của trẻ thường thiếu năng lượng, các axít amin cần thiết, đặc biệt là thiếu các vitamin và khoáng chất cho tăng trưởng và phát triển của trẻ em[14],[15],[21],[27],[33]. Vòng xoắn bệnh lý giữa thiếu ăn, bệnh tật và SDD ngày càng nặng thêm: thiếu lyzin, thiếu vitamin và chất khoáng... làm trẻ lười ăn, chậm lớn, giảm chức năng miễn dịch, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn... dẫn đến SDD. Cắt đứt vòng xoắn này bằng bổ sung VCDD và lyzin giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, tăng tốc độ phát triển thể lực, tăng khả năng miễn dịch là rất cần thiết cho phòng chống SDD ở trẻ nhỏ, đặc biệt giai đoạn ăn bổ sung 6-24 tháng tuổi [20], [50],[54], [56].
Trong những năm qua, các nghiên cứu về thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ nhỏ như thức ăn bổ sung có đậm độ năng lượng cao, các thức ăn có tăng cường vi chất vào thực phẩm đã được triển khai mạnh mẽ và đem
lại hiệu quả khả quan như bột dinh dưỡng với sự có mặt của bột ngũ cốc nảy mầm đã làm cho bột nấu chín có đậm độ năng lượng cao khi được nấu với cùng lượng bột khô như bình thường giúp phòng chống và phục hồi suy dinh dưỡng, bánh quy có bo sung sắt, kẽm, canxi, nước mắm bo sung sắt, bột dinh dưỡng bổ sung đa vi chất [3],[9], [12], [14], [15], [38]... Đây là những sản phẩm có giá trị trong cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu VCDD trẻ em, nhưng giá cả của các sản phẩm còn cao so với kinh tế của các vùng nghèo, như bột dinh dưỡng có giá 80000 đồng/kg, bánh bích quy có giá 100 000đồng/kg...
Mặt khác, với đặc điểm thức ăn bổ sung của trẻ em các vùng núi, vùng Tây nguyên, vùng nông thôn nghèo chủ chủ yếu là cháo gạo trắng, thiếu protein và thiếu VCDD trong chế độ ăn, hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn, bố mẹ không có nhiều thời gian chăm sóc trẻ thì việc tiếp cận thường xuyên với các sản phẩm dinh dưỡng trên là khó khăn.
Một giải pháp khả thi và bền vững để phòng và chống thiếu vi chất cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em lứa tuổi 6-24 tháng tuổi ở vùng khó khăn (Vùng núi, vùng Tây nguyên, vùng nông thôn nghèo) là hết sức cần thiết. Đặc điểm của sản phẩm bổ sung này là dựa trên các thức ăn truyền thống của địa phương, giúp cải thiện tổng hợp protein và thiếu VCDD trong chế độ ăn, có giá cả hợp lý và tiện lợi khi sử dụng. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu công nghệ sản xuất và đánh giá hiệu quả của sản phẩm giàu lyzin và vi chất dinh dưỡng đến tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật của trẻ 6-12 tháng tuổi”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu công thức và qui trình sản xuất gói sản phẩm giàu lyzin và VCDD; đánh giá hiệu quả sử dụng sản phẩm trong thời gian 6 tháng đến tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật ở trẻ em 6-12 tháng tuổi tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
2. Mục tiêu cụ thể
1. Nghiên cứu công thức và qui trình sản xuất gói sản phẩm giàu lyzin và VCDD
2. Đánh giá hiệu quả của bổ sung sản phẩm đến các chỉ số nhân trắc(cân nặng, chiều cao) và hoá sinh (vitamin A, sắt, kẽm) của trẻ.
3. Đánh giá hiệu quả của bổ sung sản phẩm đến các chỉ số bệnh tật của trẻ (tiêu chảy, hô hấp).
Giả thuyết nghiên cứu:
1. Gói sản phẩm giàu lyzin và vi chất được sản xuất, bù đắp đủ nhu cầu lyzin, cung cấp thêm 50-70% nhu cầu các vitamin và chất khoáng cho trẻ. Sản phẩm đ ảm bảo VSATTP, trẻ chấp nhận ăn gói sản phẩm khi bổ sung vào bữa ăn.
2. Bổ sung lyzin và các VCDD trên trẻ 6-12 tháng tuổi có hiệu quả tốt cải thiện tình trạng dinh dưỡng, VCDD, bệnh tiêu chảy và NKHH ở trẻ.

ĐỂ TẢI TÀI LIỆU BẠN VÀO ĐÂY

Hiệu quả của truyển thông tích cực đến đa dạng hoá bữa ăn và tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em

Thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt ở trẻ em và phụ nữ tuổi sinh đẻ đang còn là vấn đề sức khoẻ cộng đổng ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam[24][33][44][56]. Trong thời gian qua, mặc dầu đã có nhiều thành tựu trong việc phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vitamin A, thiếu iod ở trẻ em, song thiếu vitamin A tiền lâm sàng và thiếu iod vẫn cần được quan tâm giải quyết. Mặt khác, thiếu máu do thiếu sắt vẫn là vấn đề sức khoẻ cộng đổng quan trọng ở nước ta.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược quốc gia dinh dưỡng 2001 - 2010 [6] là cần tiếp tục giảm các bệnh thiếu vitamin A, iod, bệnh thiếu máu do thiếu sắt ở cộng đổng. Bốn giải pháp chính được sử dụng để phòng thiếu vi chất dinh dưỡng hiện nay trên thế giới là: Đa dạng hoá bữa ăn, bổ sung vi chất , tăng cường vi chất vào thực phẩm và các giải pháp cộng đổng. Nước ta cũng như hầu hết các nước khác tập trung vào bổ sung vitamin A, tăng cường iod vào muối và những giải pháp này đã có kết quả rất tốt .Tuy nhiên, để giảm thiếu vi chất dinh dưỡng một cách bền vững dựa vào tiếp cận thực phẩm, đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ và đa dạng cần quan tâm đến các vấn đề rộng hơn như nguổn thực phẩm tại chỗ cho đa dạng hoá bữa ăn, đáp ứng nhu cầu vi chất dinh dưỡng ở các cộng đổng dân cư.
Ăn uống là một hành vi cá nhân có thể điều chỉnh được thông qua tiếp cận thay đổi hành vi. Như chúng ta đã biết, không một loại thức ăn nào có thể cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng. Vì vậy, hoạt động truyền thông thúc đẩy đa dạng hoá bữa ăn vẫn được xem là chiến lược lâu dài và bền vững để cải thiện vi chất dinh dưỡng của khẩu phần.
Ở Việt Nam, chương trình đẩy mạnh sản xuất, đa dạng các loại thực phẩm thông qua hệ thống Vườn-Ao-Chuổng (VAC) đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Ngoài ra, truyền thống lâu đời dùng các loại rau dại, rau tự nhiên đã được sử dụng với mục đích dinh dưỡng và chữa bệnh, những truyền thống đó là nền tảng cơ bản, tiềm năng cho việc cải thiện vi chất dinh dưỡng thông qua chiến lược truyền thông đặc hiệu.
Bên cạnh thiếu vitamin A tiền lâm sàng, thiếu iod thì vấn đề thiếu máu dinh dưỡng là một vấn đề bức xúc hiện nay về sức khoẻ cộng đổng. Thiếu máu ảnh hưởng đến phát triển tinh thần của đứa trẻ, ảnh hưởng đến hiệu suất, khả năng lao động và có thể là mối đe doạ cho sự sống của bà mẹ lúc sinh. Năm 1995, cuộc điều tra toàn quốc cho thấy tỷ lệ thiếu máu cao ở cả phụ nữ có thai (53%) và phụ nữ không có thai (45%); và ở trẻ em, đặc biệt là trẻ < 2 tuổi 60% [6, 18].
Có nhiều phương pháp đã được sử dụng từ rất lâu trong truyền thông để thay đổi hành vi dinh dưỡng các phương pháp thường được dùng là: Truyên truyền giáo dục (IEC) hoặc là giáo dục dinh dưỡng cộng đổng. Cả hai phương pháp này đều được thiết lập từ trên xuống và dựa vào các tài liệu giảng dạy lý thuyết. Thực tế cho thấy phương pháp được xây dựng dựa trên kinh nghiệm có được từ tiếp xúc xã hội và sự tham gia của các nhóm dân cư xác định ngày càng trở nên phổ biến và chúng chứng tỏ được việc tiếp tục thay đổi hành vi một cách bền vững. Để đánh giá hiệu quả của phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đổng với các hoạt động truyền thông tập trung vào Đa dạng hoá bữa ăn, cải thiện vi chất dinh dưỡng nhằm cải thiện tình trang dinh dưỡng và thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ và trẻ em. Xuất phát từ thực tế nói trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu là:
1. Đánh giá tình trang dinh dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng, các yếu tổ liên quan ở bà mẹ và trẻ em ở một sổ xã thuộc huyện Phong điển, Thừa Thiên Huế.
2. Tìm hiểu hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đến kiến thức dinh dưỡng và thực hành đa dạng hoá bữa ăn của phụ nữ và các bà mẹ nuôi con nhỏ.
3. Đánh giá hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đến cải thiện tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ.
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN I
LỜI CAM ĐOAN III
NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN IV
MỤC LỤC VI
DANH MỤC CÁC BẢNG X
DANH MỤC CÁC BIEU Đồ, SƠ Đồ XIII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 17
1.1. Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu ở phụ nữ và trẻ em Việt Nam 17
1.1.1. Định nghĩa, phương pháp đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng.. 17
1.1.2. Định nghĩa, phân loại tình trạng thiếu máu 20
1.1.3. Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Việt Nam 21
1.1.4. Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu ở trẻ em ở Việt nam 251
1.2. Các biện pháp phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng 30
1.2.1. Cải thiện đa dạng hoá bữa ăn thông qua chiến lược truyền thông 306
1.2.2. Bổ sung viên sắt 351
1.2.3. Tăng cường vi chất vào thực phẩm 384
1.3. Áp dụng truyền thông tích cực thúc đẩy đa dạng hoá bữa ăn cải thiện
kiến thức, thực hành dinh dưỡng phòng chống thiếu máu ở bà mẹ và trẻ em 439
1.3.1. Định nghĩa 4329
1.3.2. Các giai đoạn của truyền thông tích cực 4430
1.3.3. Khó khăn, hạn chế, ưu và nhược điểm của phương pháp truyền thông
có sự tham gia của cộng đổng 496
1.4. Ý nghĩa của truyền thông tích cực đối vối thực hành đa dạng hóa bữa ăn 517
1.5. Thay đổi kiến thức, hành vi - phương pháp đánh giá thay đổi kiến thức,
hành vi 39
1.5.1. Khái niệm hành vi sức khỏe 39
1.5.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của truyền thông thay đổi hành vi.... 39
1.5.3. Những điều kiện để có hành vi sức khỏe tốt 54
1.5.4. Quá trình thay đổi hành vi sức khoẻ 55
1.5.5. Các phương pháp đánh giá thay đổi hành vi 57
1.6. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học áp dụng trong truyền thông 60
1.6.1. Sự khác biệt giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng....61
1.6.2. Các nghiên cứu được sử dụng trong 5 bước của triến trình truyền thông 49
1.7. Một số nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục truyền thông tại Việt nam
và trên thế' giới 63
1.7.1. Những nghiên cứu về hiệu quả của truyền thông tích cực trên thế giới.. 63
1.7.2. Những nghiên cứu về hiệu quả của truyền thông tích cực ở Việt nam.... 65
Chương 2 Đối TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúu 67
2.1. Địa điểm và Đối tượng nghiên cứu 67
2.1.1. Địa điểm 67
2.1.2. Đặc điểm chung về địa điểm nghiên cứu 67
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 67
2.2. Phương pháp nghiên cứu 68
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 68
2.2.2. Phương pháp can thiệp và cách đánh giá 71
2.2.3. Các biến số, chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu 73
2.3. Xử lý phân tích số liệu 74
2.4. Thời gian nghiên cứu 74
2.5. Các bước tổ chức nghiên cứu 75
2.7. Vấn đề y đức 77
Chương 3 KÊT QUẢ NGHIÊN cúu 77
3.1. Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em, phụ nữ và các yếu
tố liên quan tại điều tra ban đầu 78
3.1.1. Tỷ lệ TNLTD ở phụ nữ tuổi 20-35 tại điều tra ban đầu 78
3.1.2. Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em <60 tháng tại điều tra ban đầu 80
3.1.3. Tình trạng thiếu máu ở phụ nữ tuổi 20-35 tại điều tra ban đầu 88
3.1.4. Tình trạng thiếu máu ở trẻ em tại điều tra ban đầu 89
3.1.5. Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu 90
3.1.6. Thực trạng về giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn và tính đa dạng thực
phẩm phân tích theo điều tra khẩu phần ăn/24 giờ và tần suất tiêu thụ thực phẩm tại cộng đổng nghiên cứu 94
3.2. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối với kiến thức, thực hành
đa dạng hoá bữa ăn ở phụ nữ tuổi 20-35 và bà mẹ có con 6-24 tháng 96
3.2.1. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối với kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) trong đa dạng hoá bữa ăn ở phụ nữ tuổi 20-35 và bà mẹ có con tuổi 6-24 tháng 96
3.2.3. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối vối kiến thức thực hành trong đa dạng hoá bữa ăn ở phụ nữ tuổi sinh nở và bà mẹ có con tuổi 6¬24 tháng Phân tích theo tần suất tiêu thụ thực phẩm 89
3.3. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối với cải thiện tình trạng
dinh dưỡng và thiếu máu ở bà mẹ và trẻ em 91
3.3.1. Hiệu quả của truyền thông tích cực đối với cải thiện tình trạng dinh
dưỡng của bà mẹ và trẻ em tại địa phương trước và sau can thiệp 91
3.3.2. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối với cải thiện tình
trạng thiếu máu ở bà mẹ và trẻ em 108
Chương 4 BÀN LUẬN 113
4.1. Thực trạng về tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng và các yếu tố
liên quan ở bà mẹ và trẻ em 113
4.1.1. Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em tại cộng đổng nghiên cứu 119
4.1.2. Tình trạng thiếu máu ở trẻ em tại cộng đổng nghiên cứu 113
4.1.3. Tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ  121
4.1.4. Tình trạng thiếu máu ở ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 117
4.1.5. Các yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu: 123
4.1.6. Thực trạng về giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn và tính đa dạng thực phẩm phân tích theo điều tra khẩu phần ăn/24 giờ và tần suất tiêu thụ
thực phẩm tại cộng đổng nghiên cứu 128
4.1.7 Xác định những vấn đề cần can thiệp 129
4.2. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đến kiến thức, thực hành đa
dạng hoá bữa ăn của phụ nữ và các bà mẹ nuôi con nhỏ 132
4.2.1. Cải thiện kiến thức, thực hành đa dạng hoá bữa ăn và các biện pháp
phòng chống thiếu máu : 135
4.2.2. Cải thiện về thực hành đa dạng hoá bữa ăn thông qua kết quả tần suất
tiêu thụ thực phẩm: 139
4.2.3. Cải thiện về thực hành đa dạng hoá bữa ăn thông qua hàm lượng sắt và
vitamin C trong khẩu phần ăn: 141
4.3. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đến cải thiện tình trạng dinh
dưỡng, thiếu máu dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ 142
4.3.1. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đến cải thiện tình trạng
dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ 143
4.3.2. Hiệu quả của giáo dục truyền thông tích cực đối với cải thiện tình trạng
thiếu máu ở bà mẹ và trẻ em 146
4.4. Những ưu điểm của can thiệp 149
4.4.1. Tính thực thi của phương pháp truyền thông có sự tham gia của đổng. 149
4.4.2. Tính Khoa học của phương pháp truyền thông có sự tham gia của đổng.
149
4.5. Những hạn chế của can thiệp 151
KẾT LUẬN 140
KIẾN NGHI 1523 
ĐỂ TẢI TÀI LIỆU ĐẦY ĐỦ BẠN VÀO ĐÂY

Friday, 4 April 2014

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phác đồ insulin liều chia nhỏ trong điều trị tình trạng tăng đường huyết mới được phát hiện ở bn cấp cứu

Tăng đường huvết (TĐH) là một tình huống thường gập ở bệnh nhân (BN) đến cấp cứu. BN lần đầu được phát hiện có nồng độ dường huyết (ĐH) làm tình cờ > I linmol/l (200 mg/dl) và trước đó không được biết bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) được xếp vào nhóm TĐH mới được phát hiện. Thực tế là, thực thê này gồm các BN bị ĐTĐ từ trước không được phát hiện và các BN hoàn toàn
■ Khoa Cấp cứu.* * Khoa Nội tiết BV Bạch Mai không bị ĐTĐ song bị TĐH khi có lình trạng stress.
Phác đồ insulin liều chia nhó theo mức đáp ứng đường máu mao mạch của BN thường được áp dụng cho các BN TĐH aặp trong cấp cứu. Tuy vậy chúng tói chưa thấy có một báo cáo trong nước lìghiên cứu về phác đồ điều trị insulin cho các BN này. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu úp dims phác đổ insulin liều chia nhỏ cho các BN bị TĐH gặp tại các khoa HSCC và đánh siá hiệu quá kiêm soát nồng độ ĐH cũng như các lác dụng phụ hạ ĐH nặng có thể gặp khi dùng phác đồ
II- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
1. Đôi tượng nghiên cứu
Gồm 99 BN tuổi >15, có tình trạng TĐH mới được phát hiện lần đấu trong thời gian bị bệnh lý cấp cứu nội khoa, nhập viện vào khoa HSCC- Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/1998 đến tháng 2/2003.
Chẩn đoán tình trạns TĐH mới được phát hiện dựa vào các liêu chuân 17Ị: 1) không được chán đoán bị ĐTĐ trước đó; 2) định lượng ĐH làm trong ngày nhập viện đầu tiên > I 1 mmol/l và kết quà này được xác định lại lần 2 trong vòns 8-12 giờ irons: điều kiện nhịn ăn vẫn > 11 mmol/l

BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI BẢN FULL
 

Hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trên trẻ 6 - 36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi, thiếu vi chất dinh dưỡng và bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ở trẻ em là những vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng đáng quan tâm ở nhiều nước đang phát triển. SDD thấp còi ảnh hưởng đến khoảng 178 triệu trẻ em dưới 5 tuổi (khoảng 43%), góp phần vào nguyên nhân gây ra 3,5 triệu tử vong ở trẻ em, 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ em dưới 5 tuổi và 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [97]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF năm 2006, trên toàn cầu có 750 triệu bị thiếu máu, khoảng trên 30% trẻ em < 5 tuổi bị thiếu kẽm [56], Các vấn đề thiếu vi chất khác như thiếu vitamin A, thiếu selen,.... cũng còn tương đối trầm trọng ở những nước đang phát triển, đặc biệt là nước nghèo [56]. Bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ SDD vẫn còn khá phổ biến. Tiêu chảy trẻ em vẫn là một trong những nguyên nhân gây SDD và tử vong ở trẻ em. Theo thống kê năm 2003 của WHO, tiêu chảy đóng góp 15% nguyên nhân tử vong của trẻ, số lần mắc trung bình là 3,2/lần năm, tỷ lệ tử vong là 4,9 phần nghìn [118],[119],
Ớ Việt Nam, SDD nhẹ cân (cân nặng/tuổi thấp) giảm mạnh từ trên 50% những năm 80 xuống dưới 20% năm 2009; SDD thấp còi (chiều cao/tuổi thấp) cũng giảm đáng kể, từ 59,7% năm 1985 xuống 33% năm 2006 nhưng còn ở mức cao theo phân loại của WHO, vẫn là những thách thức lớn cho toàn xã hội. Bên cạnh đó tỷ lệ và tốc độ SDD giảm không giống nhau giữa các vùng, giảm nhanh tại các đô thị và thành phố lớn, giảm chậm ở các vùng nông thôn và miền núi. Tại những vùng khó khăn như nông thôn, miền núi tỷ lệ SDD thấp còi vẫn ở mức 50-60%, đói nghèo, bệnh tật, thiếu kiến thức thực hành về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ... vẫn là những nguyên nhân chính của SDD tại các vùng này.
Thiếu vi chất dinh dưỡng cũng là vấn đề đang được quan tâm. Thiếu sắt thường đi kèm với thiếu vitamin A, thiếu kẽm và các vi chất dinh dưỡng khác [56]. Tại vùng nông thôn, vùng nghèo tình trạng SDD kết hợp với vi chất dinh dưỡng kém vẫn còn khá phổ biến. Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 6 tỉnh đại diện của Việt Nam năm 2006 là 36,7%, thiếu vitamin A là 14,2% [14], [15], [16] và thiếu kẽm ở trẻ em vùng miền núi phía Bắc là 86,9% [87]. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trẻ thường thiếu kết hợp nhiều vi chất [9], [87]. Nguyên nhân chủ yếu do khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo, nhất là thực phẩm bổ sung nghèo protein nguồn gốc động vật và nghèo vi chất dinh dưỡng (chỉ đáp ứng khoảng 30-50% nhu cầu).
Chương trình mục tiêu phòng chống SDD trẻ em (giai đoạn 2001-2010), cũng như các dự án can thiệp khác, chủ yếu tập trung tác động vào SDD thể nhẹ cân, rất ít chiến lược và giải pháp cụ thể cho trẻ SDD thấp còi. Đồng thời, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng SDD thấp còi thường kết hợp với thiếu vi chất dinh dưỡng, do vậy can thiệp bằng bổ sung các vi chất dinh dưỡng có thể là biện pháp hữu hiệu cắt đứt chuôi vòng xoắn liên quan giữa thiếu ăn, bệnh nhiễm trùng. Chính vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu can thiệp bổ sung kẽm và bổ sung đa vi chất dưới dạng sprinkles cho trẻ 6-36 tháng tuổi bị SDD thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh nhằm đưa ra bằng chứng khoa học cho một giải pháp can thiệp mới. 
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá sự thay đổi các chỉ số nhân trắc ở trẻ 6-36 tháng tuổi bị SDD thấp còi thông qua bổ sung kẽm và sprinkles sau 6 tháng can thiệp (T6) và 6 tháng sau khi kết thúc can thiệp (T12).
2. Đánh giá sự thay đổi các chỉ số Hb máu, vitamin A và kẽm huyết thanh ở trẻ 6-36 tháng tuổi bị SDD thấp còi thông qua bổ sung kẽm và sprinkles sau 6 tháng can thiệp (T6) và hiệu quả trên chỉ số Hb 6 tháng sau khi kết thúc can thiệp (T12).
3. So sánh hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đối với bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn đường hô hấp (NKHH) ở trẻ em 6 đến 36 tháng tuổi bị SDD thấp còi sau 6 tháng can thiệp (T6).
Giả thuyết nghiên cứu:
1. Bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trên trẻ SDD thấp còi 6-36 tháng tuổi có hiệu quả tốt đối với các chỉ số nhân trắc, sinh hoá, bệnh tiêu chảy và NKHH.
2.  Hiệu quả bổ sung sprinkles đa vi chất tốt hơn bổ sung kẽm trên trẻ SDD thấp còi.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xii
MỞ ĐẦU 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1..TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. SDD THẤP CÒI Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI 4
1.1.1. Khái niệm và phương pháp đánh giá SDD thấp còi 4
1.1.2. Thực trạng SDD thấp còi 5
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ 8
1.1.4. Hậu quả 10
1.1.5. Các giải pháp phòng chống và can thiệp 12
1.2. CAN THIỆP BỔ SUNG KẼM TRONG PHÒNG CHỐNG SDD VÀ BỆNH
NHIỄM KHUẨN Ở TRẺ EM 14
1.2.1. Hấp thu, chuyển hoá, tương tác sinh học, nhu cầu kẽm 14
1.2.2. Tình trạng thiếu kẽm trên thế giới và Việt Nam 18
1.3. CAN THIỆP BỔ SUNG SPRINKLES TRONG PHÒNG CHỐNG THIẾU
VI CHẤT VÀ SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 24
1.3.1. Sprinkles là gì? 24
1.3.2. Nguyên tắc lựa chọn các vi chất sử dụng cho Sprinkles 26
1.3.3. Đánh giá về khả năng chấp nhận sử dụng sprinkles 27
1.3.4. Hiệu quả sử dụng sprinkles trong phòng chống thiếu vi chất và suy dinh
dưỡng ở trẻ em 29
1.4. LÝ DO CẦN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 31
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 33
2.2.2. Cỡ mẫu 33
2.2.3. Chọn mẫu và phân nhóm nghiên cứu 35
2.2.4. Mô tả các bước tiến hành nghiên cứu 36
2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá 44
2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá 45
2.2.6. Xử lý và phân tích số liệu 49
2.2.7. Các biện pháp khống chế sai số 51
2.2.8. Đạo đức trong nghiên cứu 52
CHƯƠNG 3..KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ QUẦN THỂ ĐIỀU TRA SÀNG LỌC 54
3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 54
3.1.2. Đặc điểm tình trạng dinh dưỡng của trẻ tham gia điều tra sàng lọc 55
3.2. HIỆU QUẢ CỦA CAN THIỆP 57
3.2.1. Đặc điểm các đối tượng được lựa chọn vào can thiệp 57
3.2.2. Hiệu quả can thiệp đến các chỉ số nhân trắc 60
3.2.3. Hiệu quả can thiệp trên chỉ số sinh hoá 72
3.2.4. Hiệu quả can thiệp trên bệnh tiêu chảy và NKHH 81
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 89
4.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHÂN TRẮC VÀ SINH HOÁ CỦA TRẺ 6-36
THÁNG TẠI THỜI ĐIỂM ĐIỀU TRA SÀNG LỌC 89
4.1.1. Về các chỉ số nhân trắc tại thời điểm điều tra sàng lọc 89
4.1.2. Về nồng độ Hb và tỷ lệ thiếu máu tại thời điểm T0 90
4.1.3. Nồng độ vitamin A huyết thanh và tỷ lệ thiếu vitamin A tại thời điểm
T0  91
4.1.4. Về nồng độ kẽm huyết thanh và tỷ lệ thiếu kẽm tại thời điểm T0 92
4.1.5. Thiếu kết hợp đa vi chất trên nhóm trẻ SDD thấp còi tại thời điểm T0 92
4.2. HIỆU QUẢ SAU 6 THÁNG CAN THIỆP 93
4.2.1. Về liều lượng và thời gian can thiệp 93
4.2.2. Hiệu quả cải thiện đối với các chỉ số nhân trắc 95
4.2.3. Hiệu quả cải thiện hàm lượng hemoglobin và tình trạng thiếu máu... 101
4.2.4. Hiệu quả cải thiện hàm lượng Retinol huyết thanh và thiếu vitamin A  106
4.2.5. Hiệu quả cải thiện hàm lượng kẽm huyết thanh và thiếu kẽm 108
4.2.6. Hiệu quả cải thiện một số chỉ số bệnh tật 109
4.3. HIỆU QUẢ 6 THÁNG SAU KHI NGỪNG CAN THIỆP(T6-T12) 114
4.3.1 Hiệu quả cải thiện trên chỉ số nhân trắc 114
4.3.2. Hiệu quả cải thiện hàm lượng hemoglobin và tình trạng thiếu máu... 116
4.4. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 117
KÉT LUẬN 119
KHUYẾN NGHỊ 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1. BỘ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 2. SỔ THEO DÕI SỬ DỤNG THUỐC VÀ BỆNH TẬT
PHỤ LỤC 3. HỘP SẢN PHẨM KẼM
PHỤ LỤC 4. HỘP SẢN PHẨM SPRINKLES ĐA VI CHẤT
BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI BẢN FULL